KHU LƯU NIỆM CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG

Ngôi nhà lưu niệm thời niên thiếu của Chủ tịch Tôn Đức Thắng tọa lạc tại ấp Mỹ An, xã Mỹ Hòa Hưng, thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ngôi nhà này do ông Tôn Văn Đề, thân sinh của Bác Tôn, xây dựng năm 1887, kiến trúc theo hình chữ quốc, nền sàn lót ván, mái lợp ngói ống, ngang 12 mét, dài 13 mét, rộng hơn 150 mét vuông. Ngôi nhà được người em trai thứ tư của Bác Tôn là ông Tôn Đức Nhung sửa chữa một lần vào năm 1932, vẫn giữ y kiến trúc ban đầu. Trong nhà hiện nay còn lưu giữ được trọn bộ cả hai tấm ảnh bán thân của thân sinh Bác Tôn là ông Tôn Văn Đề và bà Nguyễn Thị Dị. Một bộ ngựa gõ mà lúc còn niên thiếu Bác Tôn thường nằm và bộ bàn ghế bằng gỗ mun. Một tủ thờ cẩn ốc xa cừ và các đôi liễn cũng cẩn ốc. Đôi giày hàm ếch khi còn học bên Long Xuyên Bác Tôn tự đóng tặng cho người em ruột thứ tư Tôn Đức Nhung, lúc đó khoảng 10 tuổi. Tấm ảnh Bác Tôn chụp năm 18 tuổi và một tấm ảnh chụp ở chiến khu Việt Bắc lúc Bác làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt gởi về tặng cho gia đình, phía sau tấm ảnh có ghi những dòng chữ: “Kính biếu mẹ già và mấy em, ngày 9 tháng 4 năm 1951”… dưới cùng là chữ ký của Bác.

Cạnh ngôi nhà về phía trái, có ba bụi tre gai do ông Tôn Văn Đề trồng lúc sinh thời, đến nay vẫn còn xanh. Phía sau ngôi nhà khoảng 50 mét là khu mộ chí, nơi an nghỉ của hai thân sinh Bác Tôn. Xung quanh nhà là một số cây ăn trái như xoài, mít, dừa, mận, ổi, vú sữa…

Là một di tích lịch sử, nhà lưu niệm thời niên thiếu chủ tịch Tôn Đức Thắng được Bộ văn hóa ra quyết định xếp hạng năm 1984. Từ đó đến nay, chính quyền tỉnh An Giang lần lượt xây dựng mới khu lưu niệm với nhiều công trình bên cạnh ngôi nhà thời niên thiếu của Bác Tôn như: Nhà trưng bày, đền thờ Bác Tôn, xung quanh có hoa viên rất đẹp.

Nhà trưng bày mái lợp ngói đỏ, một gian hai chái, nóc cổ lầu, diện tích trên 300 mét vuông. Bên trong trưng bày hình ảnh, phù điêu, hiện vật giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp Bác Tôn từ lúc thiếu niên cho đến thời kỳ hoạt động cách mạng và những năm tháng cuối đời.

Đền thờ Bác Tôn xây dựng hoành tráng trên khuôn viên rộng 1.600 mét vuông, toạ lạc trên nền cao lót bằng đá granit với ba bậc cấp, bốn phía đều có lối vào. Mái hai cấp, lợp ngói đỏ, nóc có tượng lưỡng long tranh châu, trông uy nghi giữa không gian rộng thoáng đãng. Trong đền, chính diện là các bao lam thành vọng chạm trỗ công phu, sắc sảo với các hoạ tiết hình hoa mai, hoa sen, hoa cúc, dây lá và cây tre; phía trên chạm hình rồng chầu cuốn thư khắc tên Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Phía trong là tượng đồng bán thân của Bác Tôn đặt trên bục cao có chạm khắc hoa văn rất đẹp.

Trước đền là quảng trường khá rộng, dành để tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao và mit-tinh lễ hội. Có hai cổng vào khu lưu niệm ở hai phía thuỷ bộ. Đường thuỷ có cầu tàu đón khách bên bờ sông Hậu. Trong khuôn viên có nhà mát, khu vui chơi giải trí, cơ sở dịch vụ… Đặc biệt, có bản sao ngôi nhà làm việc của Bác Tôn ở An toàn khu, thuộc xã Trung Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang trong thời kỳ chống thực dân Pháp. Chiếc ca-nô đưa Bác Tôn từ nhà tù Côn Đảo về đất liền năm 1945 được phục chế và trưng bày cùng với chiếc máy bay YAK-40 mang số 452 là chuyên cơ đưa Bác từ Hà Nội vào Sài Gòn ngày 11 tháng 5 năm 1975 để dự lễ kỉ niệm chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 tổ chức trọng thể vào ngày 15 tháng 5 cùng năm. Ngoài ra còn có chiếc tàu Giang cảnh của chế độ cũ để lại sau giải phóng đã sử dụng đưa Bác Tôn từ Long Xuyên về cù lao Ông Hổ xã Mỹ Hoà Hưng thăm nhà vào tháng 10 năm 1975. Nhà trưng bày 23 tác phẩm điêu khắc gỗ về đề tài Bác Tôn và quê hương Mỹ Hoà Hưng do Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật An Giang tổ chức thực hiện vào tháng 8 năm 2008 nhân dịp kỉ niệm 120 năm ngày sinh của Người.

Tỉnh đã mở rộng hai con đường thủy và bộ dẫn đến khu lưu niệm, rất thuận tiện cho khách đến viếng. Về đường thủy mở rộng các bến phà Trà Ôn, bến đò Ô Môi. Phần đường bộ, mở rộng và xây dựng con lộ trên 10 km, xây nhiều cầu xuyên xã cù lao Mỹ Hòa Hưng. Du khách có thể dùng phương tiện ô tô con đến tận khu lưu niệm.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888, trong một gia đình trung nông, trước đây thuộc xã An Hòa, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Bác Tôn có bốn anh em ruột. Bác là con trưởng trong gia đình, ba người em là Tôn Thị Én, Tôn Đức Nhung, Tôn Thị Kiệm.

Thời thơ ấu, Bác Tôn sống với ông bà ngoại tại đường Ngang, cầu Cái Sơn, Long Xuyên. Đến năm 8 tuổi (1896), Bác đi học chữ nho với ông Nguyễn Thượng Khách.

Đến năm 1900, Bác vào học trường tiểu học Long Xuyên. Năm 1906, Bác tốt nghiệp tiểu học, sau đó lên Sài Gòn học trường Bá Nghệ, 4 năm sau ra trường vào làm công nhân ở xưởng Ba Son.

Năm 1913, Bác sang Pháp làm việc ở Ác-sơ-nan (Tu-lông). Mười tám anh em ở xưởng Ba Son cùng đi đều bị đưa vào danh sách Hải quân Pháp, Bác mang số lính 418.

Năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, Bác Tôn bị điều xuống chiến hạm Phờ-răng-xơ.

Sáng ngày 20-4-1919, Ủy ban Cách mạng dưới tàu giao cho Bác Tôn kéo lá cờ đỏ trước khi mít-tinh. Bác vẫn biết làm việc này có thể bị nguy hiểm, nhưng để bảo vệ nước Nga Xô Viết, Bác đã hành động.

Sau vụ này, Bác Tôn bị sa thải ra khỏi Hải quân Pháp, Bác làm thợ máy ở hãng xe hơi Renaul và gia nhập Tổng công hội Pháp.

Năm 1920, Bác Tôn về nước và làm ở hãng Cơ-rốp, chịu ảnh hưởng Cách mạng Tháng mười Nga, Bác cùng các bạn chiến đấu lập Công hội đỏ đầu tiên ở Sài Gòn.

Ngày 12-7-1929, trên con đường hoạt động cách mạng, Bác Tôn bị thực dân Pháp bắt giam ở khám lớn Sài Gòn. Tháng 6 năm1930, thực dân Pháp đưa Bác ra tòa xét xử và kêu án khổ sai chung thân. Bác đã chống án và dư luận của quần chúng phản đối, cuối cùng Bác bị chúng kết án 20 năm khổ sai, sau đó đày đi Côn Đảo vào tháng 7 năm 1930.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Bác cùng với các đồng chí khác được chính quyền Cách mạng đón về đất liền. Trong những giờ phút sục sôi Cách mạng này, Đảng và Nhà nước đã bố trí đưa Bác về thăm quê nhà một ngày ở Cù Lao ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng và gặp lại người mẹ yêu quý. Sau đó Bác về hoạt động cách mạng ở quê vợ thuộc huyện Châu Thành, Tiền Giang. Đến năm 1947, Bác Tôn được ra hoạt động gần gũi với Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc, Bác làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt.

Năm 1955, sau khi kháng chiến thắng Pháp, hòa bình lập lại, Bác Tôn được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Năm 1960, Bác Tôn là Phó chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Tháng 10-1969, lúc Bác 81 tuổi, sau khi Bác Hồ mất, Bác Tôn giữ trọng trách là Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước ta hoàn toàn thống nhất. Bác đã về thăm quê nhà và quân dân tỉnh An Giang.

Ngày 10-5-2012 khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng được Thủ tướng chính phủ công nhận di tích quốc gia đặc biệt và ngày 17-7-2012 lễ công bố được tỉnh An Giang tổ chức trang trọng tại đây.

Bình luận